Đến nội dung

Âm dương: hiểu quan hệ trước khi luận lá số

Phân biệt nghĩa đối đãi của âm dương với thuộc tính đã quy ước của Can, Chi; thực hành bằng hai tổ hợp Giáp Tý và Ất Sửu.

Mục lục bài viết
Trang giấy cổ khổ dọc với tám biểu tượng quẻ và tên quẻ bằng chữ Hán xếp thành vòng.

Ảnh tư liệu: Bát quái trong bản in năm 1440 · University of Edinburgh Heritage Collection · CC BY 3.0 · Nguồn ảnh

Âm và dương đang nói về điều gì?

Một căn phòng có thể sáng hơn hành lang nhưng tối hơn khoảng sân. Khi dùng sáng và tối làm hình tượng âm dương, điều cần xác định đầu tiên là hai đối tượng đang được so sánh. Thiếu đối tượng ấy, câu “đây là dương” chưa nói được đầy đủ điều gì.

Âm và dương được hiểu là hai mặt đối đãi, cùng tham gia một sự vật hoặc quá trình. Động và tĩnh, nóng và lạnh, sáng và tối là những cặp hình tượng giúp tiếp cận khái niệm. Các cặp này không phải thang điểm đạo đức: dương không mặc nhiên tốt hơn âm, và âm không đồng nghĩa yếu kém.

Phân biệt quan hệ với quy ước phân loại

Trong một ví dụ đời thường, đối tượng so sánh có thể đổi. Nhưng khi đã bước vào bảng Can Chi, các nhãn âm dương có quy ước xác định. Ta không tùy ý đổi Giáp thành âm vì một người tuổi Giáp có tính trầm lặng.

Mười Thiên Can xen kẽ dương và âm. Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là năm Can dương; Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý là năm Can âm. Mỗi cặp liên tiếp cùng một hành: Giáp–Ất thuộc Mộc, Bính–Đinh thuộc Hỏa, Mậu–Kỷ thuộc Thổ, Canh–Tân thuộc Kim, Nhâm–Quý thuộc Thủy.

Địa Chi cũng xen kẽ âm dương theo chuỗi bắt đầu ở Tý. Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất thuộc dương; Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi thuộc âm. Cần thuộc đúng chuỗi trước khi ghép các bảng. Chẳng hạn, Dần–Mão thuộc Mộc theo thứ tự dương–âm, nhưng Tỵ–Ngọ thuộc Hỏa theo thứ tự âm–dương.

Ví dụ minh họa: vì sao có Giáp Tý mà không có Giáp Sửu?

Đây là bài tập về cấu trúc, không phải hồ sơ của một người. Trong vòng Hoa Giáp, Can và Chi cùng tiến một bước từ Giáp Tý. Giáp dương ghép với Tý dương; tiếp đến Ất âm ghép với Sửu âm. Quy tắc ấy tiếp tục ở Bính Dần, Đinh Mão và những tổ hợp sau.

Giáp Sửu không thuộc chu kỳ đang xét vì hai thành phần trái âm dương. Điều này chỉ cho biết tổ hợp không hợp quy tắc của bảng. Nó không có nghĩa “âm và dương không được kết hợp” trong mọi ngữ cảnh. Một điều kiện của phép phối Can Chi không thể thay cho toàn bộ học thuyết âm dương.

So sánh Giáp Tý với Ất Sửu còn cho thấy một lớp khác: cả hai cùng mang nạp âm Hải Trung Kim dù khác thuộc tính âm dương. Nạp âm là quy thuộc của toàn tổ hợp, không xóa âm dương và ngũ hành riêng của Can, Chi.

Cùng tên gọi, khác đối tượng

Trong phần Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Thái Dương và Thái Âm được dùng để chỉ các trạng thái âm dương. Trên lá số, Thái Dương và Thái Âm lại là tên hai chính tinh. Gặp cùng một tên, hãy đọc cả câu để biết đang bàn trạng thái hay sao; không chuyển trực tiếp lời giải thích ở lớp này sang lớp kia.

Đi tiếp từ nền tảng này

Thử ghi ba dòng về Giáp Tý: âm dương của từng thành phần, ngũ hành của từng thành phần, nạp âm của tổ hợp. Bài đạt yêu cầu khi ba dòng không bị nhập thành một nhãn duy nhất. Có thể đối chiếu tiếp ở Ngũ hành và các lớp quy thuộc.

Trong phạm vi Tử Vi Phúc Quang, âm dương là nền thuật ngữ của phương pháp truyền thống. Biết một nhãn âm hay dương chưa đủ suy ra năng lực, nhân phẩm hoặc diễn biến cuộc đời. Muốn luận một vấn đề, còn phải chỉ được cung, sao, quan hệ và điều kiện đang sử dụng.

← Xem toàn bộ lộ trình học

Bài liên quan