Đến nội dung
Trang chủ/Kinh Dịch/Cấu trúc quẻ và quan hệ hào

Quẻ đối và quẻ đảo: làm đúng phép đổi trước khi so nghĩa

Đổi toàn bộ âm dương khác với đảo thứ tự sáu hào. Bài học dùng Truân, Mông, Đỉnh và Thái, Bĩ để kiểm hai phép, phân biệt thêm đổi chỗ hai quái và giữ quẻ đối chiếu đúng vai trò hỗ trợ việc đọc.

Mục lục bài viết

Nói rõ phép làm thay vì chỉ nói quẻ đối

Một quẻ có thể được đặt cạnh quẻ khác theo nhiều quan hệ: đảo hình, đổi âm dương, đổi chỗ hai quái hoặc đứng cạnh nhau trong thứ tự văn bản. Nếu đều gọi chung là đối, người đọc không biết mối liên hệ nào đang được dùng. Vì vậy, bài học bắt đầu từ thao tác chính xác.

Quẻ đảo được tạo bằng cách đảo thứ tự cả sáu hào. Quẻ đối theo nghĩa đang dùng được tạo bằng cách đổi âm dương ở từng vị, giữ nguyên vị trí. Một số truyền thống gọi hai phép lần lượt là tổng hoặc phản, và thác. Do thuật ngữ có biến thể, mô tả thao tác rõ hơn chỉ ghi tên gọi.

Đảo vị và đổi tính tác động vào hai lớp khác nhau

Với phép đảo, hào ở vị 1 sang vị 6, 2 sang 5, 3 sang 4, đồng thời ba vị trên chuyển xuống tương ứng. Loại nét của mỗi hào được giữ. Điều thay là thứ tự đứng trong hình. Với phép đối, hào vẫn ở đúng vị nhưng âm thành dương và dương thành âm.

Ta dùng 1 cho dương, 0 cho âm; mọi dãy trong bài đều ghi từ dưới lên. Nếu hình ban đầu là 100010, đảo cả dãy cho 010001. Đổi tính từng vị cho 011101. Hai kết quả khác nhau vì hai phép tác động vào hai phương diện khác nhau.

Làm mỗi phép hai lần sẽ trở về hình đầu. Đây là cách tự kiểm ngắn: đảo hai lần phục hồi thứ tự, đổi âm dương hai lần phục hồi loại nét. Nếu không trở lại được dãy đầu, thao tác hoặc chiều ghi đã sai.

Ba cách đổi từ Truân không cho cùng kết quả

Cách làm với TruânDãy kết quả dưới lênQuẻ nhận được
Giữ hình gốc100 / 010Thủy Lôi Truân, số 3
Đảo toàn bộ sáu hào010 / 001Sơn Thủy Mông, số 4
Đổi âm dương ở cả sáu vị011 / 101Hỏa Phong Đỉnh, số 50
Chỉ đổi chỗ hai bộ ba010 / 100Lôi Thủy Giải, số 40

Dòng cuối được thêm để chữa một lỗi phổ biến: tưởng đảo quẻ chỉ là nhấc quái dưới lên trên. Khi đảo toàn bộ sáu hào, thứ tự bên trong mỗi quái cũng bị đảo. Chấn 100 khi đảo thành Cấn 001; vì vậy đảo Truân cho Mông, không cho Giải.

Bảng chỉ chứng minh các quan hệ hình học. Nó chưa nói Mông, Đỉnh hay Giải là tình thế tiếp theo của Truân. Để bàn sự biến trong một lần chiêm, còn cần biết hào nào động và phương pháp đang dùng.

Một kết quả có thể đến từ hai phép

Thái có dãy 111000, tức Khôn trên Càn. Đảo cả dãy cho 000111 là Bĩ; đổi tính ở cả sáu vị cũng cho Bĩ. Cặp này thuận tiện để nhớ nhưng lại dễ tạo hiểu lầm rằng đối và đảo luôn trùng nhau. Ví dụ Truân ở trên cho thấy điều ngược lại.

Một số quẻ còn giữ nguyên hình khi đảo. Càn gồm sáu dương nên đọc ngược vẫn như cũ. Sơn Lôi Di có dãy 100001, cũng đối xứng khi đảo. Không sinh quẻ khác không có nghĩa phép làm thất bại; đó là một thuộc tính của cấu trúc.

Bởi vậy, các cặp đứng cạnh nhau trong thứ tự 64 quẻ không nên bị ép thành kết quả của một phép hình học duy nhất. Có cặp đảo, có cặp đối và có thêm những cách đối chiếu ý nghĩa trong truyền thống.

Đối hình không bằng đối nghĩa hoàn toàn

Hai quẻ đổi âm dương toàn bộ có quan hệ đối hình rất rõ. Nhưng điều đó không bắt buộc mọi câu trong hai quẻ phải mang nghĩa trái nhau. Tương tự, hai quẻ được đặt cạnh nhau để đối chiếu chủ đề chưa chắc là hai hình bổ sung từng nét.

Khi dùng Thái và Bĩ để nghĩ về thông và bế, ta đang nối cấu trúc với một hướng đọc nghĩa truyền thống. Không nên biến hướng đọc đó thành lời khẳng định rằng hễ gặp Thái là sắp chuyển Bĩ. Thời gian tương lai không được chứng minh bằng việc có thể đảo một dãy sáu nét.

Một cách dùng vừa mức là đặt quẻ đối chiếu bên cạnh để nhận ra điều mình bỏ sót: ở góc nhìn ngược, vị trí nào đổi chức năng; khi cực tính đổi, câu hỏi nào xuất hiện? Sau đó quay lại quẻ chính để xem so sánh ấy có thật sự giúp đọc văn bản.

Bài tập kiểm hai tầng kết luận

Chọn một quẻ, viết hai dãy cho phép đối và đảo rồi tra tên. Kiểm ngược bằng cách làm lần thứ hai. Phần này phải có đáp án hình học xác định, không phụ thuộc người đọc thích lời giải nào.

Tiếp theo, chỉ viết một câu hỏi so sánh nghĩa, chưa viết dự báo. Nếu câu hỏi đòi đọc thêm lời hào, ghi rõ phần cần đọc. Bài tập đạt yêu cầu khi bạn phân biệt được điều đã chứng minh bằng hình với điều còn là giả thuyết diễn giải. Nhờ vậy, quẻ đối và quẻ đảo trở thành công cụ đối chiếu hữu ích, không làm quẻ chính chìm trong quá nhiều câu chuyện phụ.

← Xem các bài Kinh Dịch

Bài liên quan

64 quẻ Kinh Dịch

Quẻ 3 Thủy Lôi Truân: Gỡ rối lúc khởi đầu trước khi mở rộng

Truân nói về khó khăn khi một việc mới bắt đầu hình thành. Động lực có rồi nhưng đường đi còn rối. Sáu hào giúp phân biệt chờ để tổ chức, tìm người phù hợp, bỏ cuộc đuổi theo thiếu chỉ dẫn và giới hạn quy mô khi nguồn lực chưa thông.