Can Chi và vòng 60: tự lập bảng, tự kiểm tra lỗi
Từ hai chuỗi 10 và 12 đến sáu tuần Hoa Giáp; phân biệt vị trí trong bảng với năm, tháng, ngày và giờ thực tế.
Mục lục bài viết

Ảnh tư liệu: Dụng cụ thiên văn tại Bắc Kinh · Aaron Zhu · CC BY-SA 3.0 · Nguồn ảnh
Hai chuỗi cùng chuyển một bước
Thiên Can gồm mười tên theo thứ tự: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Địa Chi gồm mười hai tên: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Chu kỳ Hoa Giáp được lập bằng cách bắt đầu ở Giáp Tý rồi cùng tăng một bậc trong cả hai chuỗi.
Vì mười và mười hai khác nhau, hai chuỗi không về đầu cùng lúc ở bước mười hoặc bước mười hai. Chúng chỉ cùng trở lại điểm ban đầu sau sáu mươi bước. Con số 60 là bội chung nhỏ nhất của 10 và 12; đây là giải thích toán học của phép ghép, chưa phải một lời luận về đời người.
Theo dõi đúng chỗ Can quay vòng
| Vị trí | Can Chi | Điều cần kiểm tra |
|---|---|---|
| 1 | Giáp Tý | Cùng bắt đầu chuỗi |
| 2 | Ất Sửu | Cùng tiến một bước |
| 3 | Bính Dần | Không giữ nguyên một thành phần |
| 9 | Nhâm Thân | Can thứ chín, Chi thứ chín |
| 10 | Quý Dậu | Hết mười Can |
| 11 | Giáp Tuất | Can về Giáp, Chi tiếp đến Tuất |
| 12 | Ất Hợi | Chi đi đến cuối chuỗi |
| 13 | Bính Tý | Chi về Tý, Can tiếp đến Bính |
Bảng rút gọn này cố ý để lộ hai điểm dễ lệch. Sau Quý Dậu không phải Giáp Tý, vì chỉ Can đã quay vòng. Sau Ất Hợi không phải Giáp Tý, vì chỉ Chi đã quay vòng. Nếu lập tay đủ bảng, tổ hợp cuối ở vị trí 60 là Quý Hợi.
Vì sao không phải 120 tổ hợp?
Phép nhân 10 × 12 cho biết số cách chọn một Can và một Chi nếu chọn tự do. Chu kỳ đang học không chọn tự do: hai chuỗi luôn tiến đồng thời từ một gốc xác định. Vì âm dương xen kẽ ở cả hai chuỗi, Can dương luôn đi với Chi dương, Can âm luôn đi với Chi âm.
Có năm Can dương phối với sáu Chi dương và năm Can âm phối với sáu Chi âm, tạo 30 + 30 = 60 tổ hợp. Giáp Tý có trong vòng; Giáp Sửu không có. Nhận diện sai tính âm dương là một cách nhanh để tìm lỗi chép bảng, nhưng chưa đủ xác định đúng vị trí nếu người học đã bỏ sót hai dòng.
Sáu tuần và ba mươi cặp nạp âm
Cùng bảng 60 ấy có hai cách chia khác nhau. Chia mỗi mười tổ hợp thành một tuần, ta được sáu điểm khởi: Giáp Tý, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn và Giáp Dần. “Tuần” ở đây gồm mười tổ hợp, không phải tuần lễ bảy ngày.
Chia theo các cặp vị trí 1–2, 3–4, đến 59–60, ta được ba mươi cặp nạp âm. Giáp Tý–Ất Sửu cùng Hải Trung Kim; Bính Dần–Đinh Mão cùng Lư Trung Hỏa. Hai tổ hợp đứng cạnh nhau chưa chắc cùng nạp âm: Ất Sửu và Bính Dần nằm hai bên ranh giới cặp.
Như vậy, tuần Hoa Giáp và cặp nạp âm là hai lớp tổ chức bảng. Không dùng ranh giới của lớp này thay lớp kia. Sáu tuần sẽ được dùng tiếp trong phép xác định Tuần.
Từ bảng tuần hoàn đến dữ liệu sinh
Một tổ hợp Can Chi phải đi cùng nhãn năm, tháng, ngày hoặc giờ. “Giáp Tý” đứng riêng chưa cho biết cấp thời gian. Bảng quy chiếu tháng âm lịch bắt đầu tháng Giêng tại Dần; chữ “tháng Một” ở Tý là tháng Mười một, không phải tháng Giêng.
Quy chiếu này không thay quy tắc về tháng nhuận, tiết khí hoặc ranh giới năm. Vì thế, bài học lập vòng 60 không tự giải quyết một giờ sinh nằm sát mốc chuyển lịch, và không khẳng định mọi bộ môn dùng cùng một mốc. Những trường hợp ấy phải giữ dữ liệu gốc và đối chiếu quy ước riêng của phương pháp.
Một bài thực hành có đáp án kiểm tra
Tự viết từ Giáp Tý đến Bính Tý, không nhìn bảng. Kiểm tra ba mốc: vị trí 10 là Quý Dậu, 11 là Giáp Tuất, 13 là Bính Tý. Nếu khác, tìm dòng sai đầu tiên. Khi đã giữ được hai chuỗi độc lập mà cùng bước, việc tra nạp âm và Tuần sẽ bớt phụ thuộc vào ghi nhớ máy móc.
