Tuần và Triệt: hai căn cứ an, hai lớp cần phân biệt
Tra Tuần bằng đủ Can Chi, tra Triệt bằng nhóm Can; đối chiếu ví dụ và giữ rõ biến thể Mậu–Quý trong tài liệu nguồn.
Mục lục bài viết
Trước hết, xác định hai nhãn nằm ở đâu
Tuần Trung Không Vong và Triệt Lộ Không Vong cùng được biểu thị trên hai cung liền nhau, nhưng không dùng chung khóa tra. Tuần được xác định từ tuần Hoa Giáp chứa năm sinh; Triệt được tra theo nhóm Thiên Can của năm sinh.
Không Vong là thuật ngữ về sự khuyết, trống hoặc biến đổi giữa có và không trong hệ quy chiếu truyền thống. Riêng với Tuần, câu hỏi ở bước an là: hai Địa Chi nào nằm ngoài một lượt đủ mười Can của tuần chứa năm sinh? Giải được câu hỏi vị trí không đồng nghĩa đã giải được mọi ý nghĩa của sao và cung gặp Tuần, Triệt.
Tuần cần đủ cả Can lẫn Chi
Một tuần Hoa Giáp gồm mười tổ hợp, bắt đầu bằng Giáp và kết thúc bằng Quý. Mười Can chỉ đi cùng mười trong mười hai Chi; hai vị trí còn lại là nơi an Tuần của tuần ấy.
| Tuần bắt đầu | Kết thúc | Tuần tại |
|---|---|---|
| Giáp Tý | Quý Dậu | Tuất–Hợi |
| Giáp Tuất | Quý Mùi | Thân–Dậu |
| Giáp Thân | Quý Tỵ | Ngọ–Mùi |
| Giáp Ngọ | Quý Mão | Thìn–Tỵ |
| Giáp Thìn | Quý Sửu | Dần–Mão |
| Giáp Dần | Quý Hợi | Tý–Sửu |
Có thể kiểm tra bằng phép đếm: đặt Can năm ngay tại Chi năm, tiến thuận mỗi cung một Can đến Quý, rồi lấy hai cung tiếp theo. Không dịch thêm một cung trước khi bắt đầu.
Ví dụ minh họa với Nhâm Thân: đặt Nhâm tại Thân, Quý tại Dậu; hai cung sau là Tuất và Hợi. Với Đinh Tỵ: Đinh ở Tỵ, Mậu ở Ngọ, Kỷ ở Mùi, Canh ở Thân, Tân ở Dậu, Nhâm ở Tuất, Quý ở Hợi; hai cung sau là Tý–Sửu. Hai kết quả phải khớp bảng tra tuần.
Triệt được tra theo nhóm Can năm
| Can năm sinh | Triệt tại |
|---|---|
| Giáp hoặc Kỷ | Thân–Dậu |
| Ất hoặc Canh | Ngọ–Mùi |
| Bính hoặc Tân | Thìn–Tỵ |
| Đinh hoặc Nhâm | Dần–Mão |
| Mậu hoặc Quý | Tý–Sửu |
Theo cách giải thích phép tra này, Can năm quyết định Can tháng; từ tháng mang Giáp, đi đủ mười Can tới Quý rồi lấy hai cung tiếp theo. Chuỗi có thể vượt cuối năm, nên không tự dừng hoặc khởi lại ở tháng Giêng.
Nhóm Mậu–Quý khởi Giáp Dần, đi tới Quý Hợi, để lại Tý–Sửu. Nguồn có nêu một cách an khác tại Tuất–Hợi để đối chiếu, nhưng bản đang học chọn Tý–Sửu theo phép khai triển trên. Giữ rõ khác biệt này hữu ích hơn việc nhập cả hai kết quả vào một bảng rồi gọi là cùng phương pháp.
Đặt cạnh nhau để thấy điều kiện thay đổi
Đây là các ví dụ tính vị trí, không phải luận giải hồ sơ thực tế. Nhâm Thân và Bính Dần cùng thuộc tuần Giáp Tý, nên cùng Tuần tại Tuất–Hợi. Triệt lại khác: Nhâm ở Dần–Mão, Bính ở Thìn–Tỵ.
Ngược lại, Nhâm Thân và Đinh Tỵ cùng nhóm Can an Triệt nên đều có Triệt ở Dần–Mão, trong khi Tuần khác nhau. Mậu Ngọ cho một trường hợp nữa: thuộc tuần Giáp Dần và nhóm Can Mậu, nên cả Tuần lẫn Triệt cùng ở Tý–Sửu.
Những kết luận chưa thể rút ra từ bảng
Bảng an không cho biết Tuần hay Triệt làm giảm bao nhiêu phần trăm tác dụng của một sao. Nó cũng không bảo đảm một cung gặp Không Vong sẽ mất hẳn phương diện đời sống mà cung ấy biểu thị. Những khẳng định đó cần quy tắc luận riêng và nguồn phù hợp.
Tuần Hoa Giáp gồm mười tổ hợp không phải đại vận mười năm. Tuần bản mệnh không tự chuyển cung sau mỗi mười năm; việc dùng Can tháng để giải thích Triệt cũng không biến Triệt thành nhãn tự di chuyển theo tháng sinh. Khi so sánh các bảng an, cần kiểm tra quy ước của từng bảng trước khi đối chiếu vị trí.
Trước khi học tiếp, tự kiểm tra hai câu: khóa tra Tuần gồm những gì, và vì sao chỉ cùng Can chưa đủ cho cùng Tuần? Nếu còn lẫn, quay lại vòng sáu mươi Hoa Giáp.


